HƯỚNG DẪN PHA CHẾ CÀ PHÊ

CÀ PHÊ ARABICA NHỮNG ĐIỂM ĐẶC BIỆT CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Cà phê Arabica (danh pháp hai phần là: Coffea arabica) ở Việt Nam còn được gọi là cà phê chè do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường để thấp giống cây chè.

Loài C.Arabica đặc hữu hiện nay còn rất ít ở Ethiopia, trong khi hầu hết các quần thể cây trồng cà phê Arabica hiện hữu là kết quả của sự lai tạo hỗn hợp. Chỉ có ở Ethiopia, người ta mới có thể tìm thấy các cây các cây cà phê Arabica tự nhiên trong rừng nhiệt đới ở nguyên tây nam Ethiopia hay bên kia biên giới các nước láng giềng như Đông Nam Sudan và phía bắc Kenya. Những giống cà phê phát triển trong các khu rừng của Ethiopia, đã trải qua một quá trình canh tác bởi con người, chúng thường có chất lượng rất cao nhưng rất nhạy cảm với các sâu, bệnh hại.

Ngày nay có khoảng 125 giống cà phê thuộc loài Arabica phân bố rộng rãi ở nhiều châu lục từ châu Phi, Mỹ Latinh, Đông Nam Á, Trung Quốc, đến các quần đảo ở Caribean và Thái Bình Dương. Theo Wikipedia , từ những cây A.Bourbon và A.Typica ban đầu, nhiều loài cà phê khác nhau đã được tạo ra (một số do đột biến tự nhiên, một số được thực hiện bởi con người).

 

cà phê arabica

CÀ PHÊ ARABICA CÓ GIÁ TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?

Cà phê Arabica là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Nó chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới. Trên thị trường, cà phê Arabica được đánh giá cao hơn cà phê Robusta vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn. Ngoài ra, cà phê Arabica được chế biến theo phương pháp ướt – một phương pháp đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị và tạo sản phẩm chọn lọc có chất lượng cao. Cà phê Arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil, gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia, và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác. Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ.

 

cà phê arabica

 

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CAFE ARABICA

Cây cà phê Arabica ưa nơi mát và hơi lạnh. Nhiệt độ thích hợp để phát triển là khoảng 18 – 24độC. Sự phát triển của cây sẽ suy yếu khi nhiệt độ môi trường trên 25độC. Nếu có sương giá thì lá và trái cà phê sẽ bị hư hại. Do đó, cà phê Arabica thường trồng ở miền núi có độ cao từ 600m – 1500m. Để cây arabica phát triển tốt, thông thường độ cao phải trên 1000m. Dưới độ cao này, cây phát triển rất èo uột. Ngoài ra, lượng mưa thích hợp cho sự phát triển của cây là 1200 – 1500 mm/năm. Nếu lượng mưa cao 2500 – 3000 mm sẽ bắt đầu gây bất lợi cho cây. Cây cà phê phát triển được trên đất có PH từ 4 – 8, tối ưu 5,2 – 6,2. Ngày nay, cà phê Arabica được trồng ở những vùng đất cao, cận nhiệt đới: khắp châu Mỹ Latin, Trung và Đông Phi, Ấn Độ, và vài vùng ở Indonesia.

 

6cà phê arabica

 

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÀ PHÊ ARABICA 

Cây cà phê Arabica trưởng thành có dạng bụi cây lớn, thẳng đứng, cao khoảng 6m, thực tế chỉ cao khoảng 2-3m, giống của VN nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15m. Cây cà phê Arabica có cành thon dài, đối xứng. Lá mọc đối xứng, cuống ngắn 0.4cm – 1.2cm. Lá có hình oval, nhọn ở hai đầu, rìa lá quăn, mềm và rũ xuống. Chiều dài của lá khoảng 7cm – 20cm, rộng 4cm – 6cm. Mặt lá nhẵn, mặt trên lá có màu xanh thẳm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Vỏ cây mỏng, có màu xám nhạt và trở nên nứt nẻ, sần sùi khi già Gỗ cây có màu nhạt, cứng, nặng và chắc. Hệ thống rễ bao gồm một rễ trung tâm to, ngắn, cắm sâu vào lòng đất và các rễ phụ lan tỏa xung quanh. Hoa có năm cánh, màu trắng và có hương thơm. Hoa mọc thành từng cụm hoa gồm 2 – 9 cái ở nách lá. Trái cà phê thuộc loại quả thịt, hình oval. Trái xanh, khi chín có màu đỏ tươi (chủng Caturra amarello có quả màu vàng), sau chuyển thành màu xanh đen. Trái dài 1.0cm – 1.8cm và rộng 0.8 – 1.2cm.

 

cà phê arabica

 

 

Trái thường chứa 2 hạt hơi dẹt và thon, có màu xanh lá, dài 0.8cm – 1.2cm. Khi chỉ có một hạt phát triển, nó được gọi là peaberry. Hàm lượng caffeine trong hạt trung bình 1,3%. Caffeine có thể bảo vệ các bộ phận sinh dưỡng của cây khỏi côn trùng, nấm mốc và ngăn ngừa sự phát triển của các cây và vi khuẩn gần hạt cà phê nảy mầm. Cà phê Arabica có bộ nhiễm sắc thể là tứ bội (4n = 44) trong khi các loài cà phê khác là lưỡng bội (2n = 22). Cây cà phê Arabica có đặc tính tự thụ phấn nên có độ thuần chủng cao hơn các loại cà phê khác.